Go Back   :: Diễn Đàn Hồng Ân Sự Sống :: > Khấn cầu - Cảm tạ > Suy Niệm – Cầu Nguyện

Lời Nhắn Của BQT

Suy Niệm – Cầu Nguyện Tâm tư của ACE dâng lên Chúa

Các trang khác
NỘI QUI DIỄN ĐÀN

Tìm kiếm nhanh trên diễn đàn:

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Old 16/08/2009, 08:34 PM
Samuen_Maria Samuen_Maria hiện giờ offline
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Tên Thánh: Maria
Giới tính: Nữ
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA CHA!

Chúa Cha, Chúa Con, còn … Chúa Mẹ? – Bụi gai cháy

Sao có Chúa Cha, Chúa Con mà không có Chúa Mẹ?
Mỗi một sự kiện trong CƯ là để mặc khải về Tân Ước có đúng không?. Ví dụ như hình ảnh con rắn đồng trong sa mạc báo trước về Đấng Cứu Thế bị treo trên thập giá.
Còn hình ảnh bụi gai bốc cháy mà không tàn lụi có phải là biểu trưng cho Đức Mẹ sinh Chúa Jesus mà vẫn đồng trinh?
Trả lời:
1. Sao có Chúa Cha, Chúa Con mà không có Chúa Mẹ?
Câu hỏi này các em học sinh giáo lý đặc ra theo lô-gích thông thường của trí tuệ, dựa vào kinh nghiệm sống: có cha, có con, thì chắc chắn cũng phải có mẹ. Tuy nhiên, mầu nhiệm Thiên Chúa không phải là một điều chúng ta có thể hiểu được bằng lý trí tự nhiên và giới hạn của loài người chúng ta. Nhưng để chúng ta có thể tiếp cận được cách nào đó với mầu nhiệm khôn tả, Thiên Chúa đã nói với chúng ta bằng ngôn ngữ con người (qua những gì các tác giả thánh viết ra), để nhờ đi từ điều được mô tả ra được bằng ngôn ngữ, chúng ta đi tới điều không thể mô tả ra bằng ngôn ngữ, mà chỉ có thể hiểu được bằng cầu nguyện, bằng chiêm ngưỡng.
Có thể nói đây là nguyên tắc phải theo để đọc Kinh Thánh và học giáo lý.
Vậy từ ngữ Cha (hay Chúa Cha) không phải là một từ ngữ chỉ phái tính (nghĩa là một người đàn ông, qua đường tính dục [= ăn ở vợ chồng] mà khiến cho bà vợ có thai và sinh ra một con trai), nhưng chữ “Cha” được dùng mà nói về Thiên Chúa là do Kinh Thánh đã dùng ngôn ngữ đức tin mà nói lên hai khía cạnh:
1) Thiên Chúa là nguồn gốc đầu tiên của mọi sự và là Đấng uy quyền siêu việt,
2) đồng thời là Đấng nhân hậu yêu thương chăm sóc chúng ta là con cái người. Ngôn ngữ đức tin này được hình thành từ kinh nghiệm về cha mẹ trần thế, những người dưới một khía cạnh nào đó, là đại diện đầu tiên của Thiên Chúa nơi con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy là cha mẹ trần thế có thể sai lệch và bóp méo hình ảnh làm cha làm mẹ. Cho nên, cần phải nhắc lại là Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt phái tính của người phàm. Người không là nam mà cũng không là nữ (Lại phải nhắc lại: Xin đừng lấy chuẩn mực của con người mà áp dụng vào Thiên Chúa, rồi có những lời bình phẩm vô phép!) Người là Thiên Chúa (xem Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 239.245).
Đến với Đức Giêsu, ta càng thấy rõ hơn: Chính Đức Giêsu đã mạc khải cho ta biết Thiên Chúa là “Cha” theo một nghĩa chưa từng có: Người không chỉ là Cha vì là Tạo Hóa, từ muôn thuở Người là Cha trong tương quan với Con duy nhất, Ngôi Con từ muôn thuở cũng chỉ là Con trong tương quan với Ngôi Cha (x. Mt 11,27). Công đồng chung Nixê I năm 325 đã tuyên xưng Chúa Con “đồng bản thể” với Chúa Cha, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất với Chúa Cha. Công đồng chung Côngtăngtinôpôli II năm 381 tuyên xưng thêm: “Con một Thiên Chúa sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha” (xem Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 240-242).
Còn Chúa Thánh Thần được mạc khải như một ngôi vị Thiên Chúa, khác với Đức Giêsu và với Chúa Cha. Vẫn Công đồng chung Côngtăngtinôpôli II năm 381 đã tuyên xưng: “Chúa Thánh Thần là Chúa, và là Đấng ban sự sống; Người phát xuất từ Chúa Cha”. Người là vừa cùng lúc của Chúa Cha và Chúa Con.
Tuy nhiên, truyền thống thần học cũng gọi Chúa Cha là “Đấng sinh thành”, Chúa Con là “Đấng được [Chúa Cha] sinh thành”, còn Chúa Thánh Thần là “Đấng xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con” (xem Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 254). Chúa Thánh Thần cũng là Đấng trong Người muôn vật được hiện hữu nên các Giáo phụ cũng gọi Người là “hành vi sinh thành”, tức có vai trò như người mẹ (trong thực tế từ Híp-ri ruah, “thần khí”, thuộc giống cái).
Kết luận: Hiểu từ ngữ “Cha” như thế, ta sẽ hiểu vì sao có tác giả tu đức nói Thiên Chúa Cha là Đấng chan hòa tình mẫu tử (x. Is 66,13; Tv 131,2). Và ta sẽ khỏi phải thắc mắc về Thiên Chúa bằng những câu hỏi đôi khi vô tình trở thành phạm thánh!
2. Mỗi sự kiện trong Cựu Ước là để mạc khải Tân Ước?
Chỉ có thể nói chung là Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước, và Tân Ước làm trọn Cựu Ước. Còn nói mỗi sự kiện trong Cưu Ước là để mạc khải Tân Ước thì quá đáng: có những sự kiện là hình ảnh tiên báo (= tiên trưng) một điều sẽ có trong Tân Ước (= đối trưng), chẳng hạn việc đi qua Biển Đỏ báo trước bí tích rửa tội, con rắn đồng là hình ảnh được nên trọn nơi Đức Giêsu chịu đóng đinh, man-na được nên trọn nơi Bí tích Thánh Thể…Nhưng không phải luôn luôn là như thế. Giải thích theo cách đó là không tôn trọng các thể văn của Cựu Ước, vì trong Cựu Ước có thể văn tường thuật (liên hện đến các sự kiện), nhưng cũng có thể văn tiểu thuyết hư cấu, thể văn triết học, thể thi ca…
3. Hình ảnh bụi gai bốc cháy mà không tàn lụi biểu trưng cho Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu mà vẫn đồng trinh?
Đúng là như vậy theo truyền thống thần học by-dăng-tin (chính thống): truyền thông này đã coi bụi gai cháy mà không bị thiêu rụi là hình ảnh nói về sự trinh khiết của Đức Maria. Sau đây là ghi chú một số bản văn của một số tác giả.
Raban Maure (Pháp và Đức, mất năm 856) :
« Bụi cây, như một số người nghĩ, là một hình ảnh báo trước Đức Trinh Nữ Maria, bởi vì Mẹ đã làm nảy sinh Đấng Cứu thế như một bông hồng, hầu như bằng cách kéo Người ra từ bụi cây là thân xác nhân loại của Mẹ ; hoặc bởi vì Mẹ đã tạo ra sự huy hòang mạnh mẽ của Thiên Chúa mà không bị thiêu rụi.
Chính vì thế, trong sách Xuất hành, ta đọc thấy : Đức Chúa đã hiện ra với ông Môsê trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Môsê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi”.
Raban Maure, De univverso 19, 6, PL 111, 513 C
Amédée de Lausanne (Viện phụ Hautecombe, † 1159):
Bài giảng III, S.C. 72, 109.
Grégoire Palamas († 1359 tại Thêxalônica):
Bài giảng 14, 8, cho Lễ Truyền Tin.
Paul Evdokimov (Nga và Paris, 1901-1970) :
Pavel EVDOKIMOV (1901-1970), La femme et la salut du monde. Étude d’anthropologie chrétienne sur les charismes de la femme. Tournai-Paris 1958, p. 217-218.
Tuy nhiên, đây là một nghĩa ứng dụng thôi, chứ không phải là nghĩa trực tiếp rút ra từ bản văn.
Lm Phan Long, ofm
(Còn tiếp)
Hình Kèm Theo
Kiểu File : bmp a15.bmp (115.5 KB, 10 lần tải)

thay đổi nội dung bởi: Samuen_Maria, 16/08/2009 lúc 08:42 PM
Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 16/08/2009, 08:41 PM   #2
Samuen_Maria
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA CHA!

THIÊN CHÚA CHA


ÐẤNG SÁNG TẠO VŨ TRỤ


Lm. Trịnh Ðức Hoà, C.Ss.R.

Trong tiến trình chuẩn bị Năm Thánh 2000, năm mừng kỷ niệm biến cố cứu độ trọng đại trong lịch sử nhân loại, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II kêu mời toàn thể Dân Chúa dành trọn năm 1999 này cho việc học hỏi và suy niệm về Thiên Chúa Cha. Trong loạt bài tới đây, chúng tôi mời quý độc giả cùng suy ngắm chân dung Thiên Chúa Cha qua những đường nét đa dạng và phong phú như Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo, là Ðấng Thánh, là Ðấng Cứu Ðộ, Thiên Chúa là Cha, là Ðấng Quan Phòng . . . từng xuất hiện bàng bạc trong những trang Kinh Thánh.
Bối Cảnh Văn Hóa
Người Cận Ðông thời cổ tin rằng vũ trụ và thế giới là công trình sáng tạo của nhiều vị thần. Vì thế, họ thường truyền tụng những câu chuyện thần thoại về sáng tạo thuật lại những mối xung đột và giao chiến giữa các thần linh hằng cừu địch nhau. Từ cuộc phân tranh ấy mà mây trời, sông nước, núi đồi, cây cỏ, chim muông, con người lần lượt xuất hiện. Theo họ, nguồn gốc hình thành vũ trụ và thế giới này là kết quả của những tranh chấp bất hoà giữa các vị thần.
Trong cảnh vực văn hóa khôi nguyên này, niềm tin của Dân Do-Thái về Thiên Chúa Tạo Thành lại càng sáng ngời nét độc đáo kỳ thú. Khởi điểm của nó không phải là nhằm thuần túy truy tầm đâu là lịch sử hình thành thế giới vật chất này, song là xuất phát từ cảm nghiệm sâu xa về một Thiên Chúa Cứu Ðộ. Thật vậy, xuất phát từ biến cố Giavê ra tay thi thố quyền năng giải thoát dân Do-Thái khỏi ách nô lệ Ai-Cập để hình thành nên một dân tộc độc lập mà đoàn dân giải phóng đã mở rộng niềm tin rằng Giavê cứu độ ấy còn là Thiên Chúa sáng tạo cả càn khôn vũ trụ. Như thế, họ bác bỏ huyền thoại của người lân bang về nguồn gốc hình thành thế giới từ chuyện tranh giành thế lực giữa giới đa thần và đồng thời khẳng định Giavê là Thiên Chúa độc nhất đã thực hiện việc sáng tạo thế giới, không phải do cừu thù nhỏ nhen, nhưng vì lòng khoan nhân muốn chia sẻ sự sống phong nhiêu và vinh quang kỳ diệu của Người cho muôn vật muôn loài.
Trình Thuật Sáng Tạo
Sách Khởi Nguyên, tác phẩm đầu tiên của Ngũ Kinh và toàn bộ Kinh Thánh, mở đầu bằng trình thuật sáng tạo, nhằm minh xác rằng Thiên Chúa đã không "làm" nên vũ trụ bằng đôi tay như nhà điêu khắc đúc tượng, nhưng Người đã "sáng tạo" vũ trụ từ hư vô (ex nihilo) bằng cách dùng chính quyền năng thần linh độc nhất vô nhị để hoàn thành điều Người ước muốn. Sách ghi, "Khởi thủy Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất. Ðất thời trống không mông quạnh" (Kn 1:1-2). Lúc đó, cả vũ trụ là một cõi hỗn mang trống rỗng, nơi bóng tối duy nhất ngự trị. Chính trên cõi uông mang hỗn độn này mà quyền năng Thiên Chúa tác động bằng sự xuất hiện của "Thần khí Thiên Chúa" là là trên nước, ám chỉ khả năng kiềm tỏa những thế lực hỗn loạn để chuẩn bị cho một trật tự mới sắp được hình thành.
Tiếp đến là qui trình sáu ngày sáng tạo được trình bày thật uy nghi hùng tráng. Toàn bộ trình thuật toát ra một cảm quan đặc biệt về sự khôn ngoan siêu việt và hài hòa tuyệt diệu không thể tìm thấy trong bất cứ truyền thuyết về sáng tạo nào của các dân tộc Ai-Cập và Babylon láng giềng. Trình thuật sáng tạo của người Do-Thái cho thấy Thiên Chúa đã có một chương trình sáng tạo tiệm tiến diễn ra trong một tuần lễ và nhằm một chủ đích là tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa:
Ngày thứ nhất, Thiên Chúa sáng tạo ánh sáng và bóng tối, ngày và đêm.
Ngày thứ hai, Thiên Chúa sáng tạo trời biển.
Ngày thứ ba, Thiên Chúa sáng tạo đất đai, thảo mộc
Ngày thứ tư, Thiên Chúa sáng tạo mặt trời, mặt trăng.
Ngày thứ năm, Thiên Chúa sáng tạo cá biển, chim trời.
Ngày thứ sáu, Thiên Chúa sáng tạo súc vật, con người.
Ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi.

Từ đó, ta có thể phân chia sáu ngày sáng tạo theo hai bản: (1) Trong ba ngày đầu, Thiên Chúa thiết đặt bối cảnh không gian như một diễn đàn cho hoạt cảnh diễn ra kế tiếp; (2) từ ngày thứ tư đến ngày thứ sáu, những sinh vật bắt đầu xuất hiện.

Ngày 1


Sáng tạo ánh sáng





Ngày 2


Ðặt định vị trí nước và không gian
Ngày 3


Ðặt định đất khô và thảo mộc
Ngày 4


Sáng tạo các loại ánh sáng


Ngày 5


Sáng tạo cá biển chim trời





Ngày 6


Sáng tạo thú vật và con người


Bản trường ca tạo thành hùng tráng kết thúc ở ngày thứ bảy, ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi. Trong Kinh Thánh, con số bảy tượng trưng cho những gì sung mãn, hoàn thiện, thành toàn. Câu nói "Thiên Chúa nghỉ ngơi" hàm hai ý: (1) Thiên Chúa có thể dừng tay để chiêm ngắm tất cả công trình sáng tạo trong niềm vui và mãn nguyện, bởi biết rằng vũ trụ đã hoàn mỹ và không còn thiếu thốn gì; (2) Thiên Chúa nay có thể để cho công trình sáng tạo này tự vận hành bởi nó đã được trang bị đầy đủ để mưu ích cho mọi loài thọ tạo, cách riêng loài người. Từ đây, Thiên Chúa sẽ không tự tiện thay đổi các định luật được thiết định nhằm đảm bảo và duy trì trật tự và sự sống của từng loài.
Tất cả diễn tiến này được kể bằng giọng văn trang trọng uy nghiêm theo mẫu thức tuyên xưng đức tin trong phụng vụ. Những công thức lập đi lập lại: "Thiên Chúa đã phán . . . . Và đã xảy ra như vậy . . . . Và Thiên Chúa đã thấy thế là tốt lành . . . . Và Thiên Chúa đã chúc lành . . . ." âm vang lời ca tán tụng Thiên Chúa toàn năng. Ẩn tàng trong những lệnh truyền linh diệu này là một sự tuân phục tuyệt đối của mọi loài thọ tạo trước lời truyền đầy quyền uy của Ðấng Sáng Tạïo, hầu phải xuất hiện và vận hành chính xác theo từng mục đích riêng được ký thác.
Quyền Năng Sáng Tạo: Lời Chúa
Ðiểm đáng chú ý về trình thuật sáng tạo trong sách Khởi Nguyên là tác động hữu hiệu của Lời Thiên Chúa phán: "Và Thiên Chúa đã phán: ‘Hãy có ánh sáng’; và ánh sáng đã có" (Kn 1:3). Một lời truyền giản đơn dẫn đến một kết quả tức khắc. Không cầu kỳ phức tạp, chẳng nhọc công luống sức. Ở đây, Thiên Chúa xuất hiện không như một nghệ nhân nắn nót mài dũa công phu một tác phẩm nghệ thuật mà chất liệu đất, gỗ, dầu, sơn có sẵn trong tay. Không thế được, bởi lẽ Ðấng Sáng Tạo không phải là con người thọ tạo nên không thể "làm" giống con người được. Chưa có một chất liệu nào, lấy gì mà "làm"? Nếu muôn sự còn là hư vô, thì chưa phải là chuyện "làm", song là việc "phán" một lời quyền năng, cho thành tựu như ý muốn. Qua đó, tác giả Kinh Thánh muốn ghi đậm nét độc đáo của chân dung Thiên Chúa Sáng Tạo đầy quyền uy nơi chính Lời Chúa. Như sẽ thấy, xác tín bền bỉ này xuyên suốt toàn bộ Kinh Thánh:
"Bởi Lời Giavê, các từng trời đã được dựng nên,
bởi hơi khí miệng Người, có các cơ binh hết thảy . . . .
Vì Người phán và liền có,
Người truyền và đã thành sự" (Tv 33:6, 9).
"Khởi nguyên đã có Lời, và Lời ở nơi Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa.
Ngài đã có lúc khởi nguyên nơi Thiên Chúa.
Mọi sự đã nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì thành sự.
Ðiều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống,
và sự Sống là sự Sáng cho nhân loạiï" (Gn 1:1-3).
Ở đây, Lời Chúa không chỉ thuần túy là phương tiện truyền đạt ý muốn, nhưng quan trọng hơn, đó là một biến cố sáng tạo, một phương thức tác thành, một phương tiện hoạt động, Lời xuất tự Thiên Chúa không hề là thụ động vô hiệu, nhưng luôn đầy năng động tác sinh. Lời Người phán ra là lời quyền năng, có sức thực hiện trọn vẹn ý Người muốn. Lời thần linh ấy tiên thiên đòi hỏi một niềm tuân phục tuyệt đối về phía loài thọ tạo.
Cùng Ðích Sáng Tạo: Con Người
Công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa đạt đến chóp đỉnh nơi việc tạo dựng nên con người. Trình thuật sáng tạo còn ghi đậm một ý thức rõ rệt về vị trí và vai trò của con người trong toàn thể vũ trụ được tạo thành. Xác tín chắc nịch nhất vẫn là, con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa để được trao ban quyền cai quản muôn loài. Bởi thế, con người là tạo thành cuối cùng, kết thúc chuỗi sáu ngày tạo dựng, là dấu niêm phong trân trọng ghi trên toàn bộ chương trình sáng tạo của Thiên Chúa. Tất cả những gì thành hình trước đó cốt để chuẩn bị cho con người xuất hiện. Thiên Chúa đã phải cẩn thận dọn cho loài người một khung cảnh sinh hoạt thật xinh đẹp, đầy đủ, và khả dĩ sinh trưởng được, rồi trao ban cho con người thế giới và vũ trụ đó như món quà huyền diệu nhưng không để khai thác hưởng dùng.
Tưởng cũng nên biết, sách Khởi Nguyên còn lưu lại hai trình thuật sáng tạo con người (Kn 1:26-31 và 2:4b-25). Xét về trình tự thời gian, trình thuật sau (chương 2) có truyền thống cổ xưa hơn, trong khi trình thuật đầu (chương 1) hình thành sau này. Kết hợp lại, hai trình thuật này bổ sung cho nhau và làm cho nội dung thần học sáng tạo càng thêm phong phú sinh động.
Theo trình thuật ở chương 1, con người không chỉ là một loài thọ tạo như bao loài khác. Nét độc đáo thiêng liêng của nó là được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa để thông chia quyền cai quản mọi loài được dựng nên.
"Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình. Theo hình ảnh Thiên Chúa Người đã dựng nên nó. Là nam là nữ, Người đã dựng nên chúng. Và Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng và Thiên Chúa đã phán bảo chúng:
Hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất. Và hãy bá chủ nó! Hãy trị trên cá biển và chim trời và mọi sinh vật nhung nhúc trên đất" (Kn 1:28).
Ở đây, con người xuất hiện như một chủ nhân ông với đầy đủ vinh dự và trách nhiệm. Tuy vẫn là loài thọ tạo nhưng con người mang nét ưu việt trổi vượt trên muôn loài và có quyền hành xử trên chúng. Hiểu biết và tự do là hai đặc tính thiên phú cho con người để thực thi trách nhiệm này. Trong khi chương 1 nhấn mạnh đến quan hệ giữa con người và muôn loài, chương 2 chú ý đến quan hệ giữa người nam và người nữ.
"Nhưng phần người, người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào đương đối.
Và Giavê Thiên Chúa đã giáng xuống rên người một giấc tê mê và nó đã ngủ thiếp đi. Vá Người đã rút lấy một xương sườn của nó, đoạn lấp thịt vào. Và trên sườn đã rút tự người, Giavê Thiên Chúa đã xây thành người đàn bà" (Kn 2:20-22).
Trình thuật sáng tạo con người ở chương 2 đây, tuy không nói đến sự kiện con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, nhưng lại giới thiệu những yếu tố căn cốt này: khả năng biết chính mình, kinh nghiệm con người sống giữa thế giới, nhu cầu khỏa lấp nỗi niềm đơn chiếc và sự cậy dựa vào Thiên Chúa để tồn tại.
Ngay từ đầu, những yếu tố này minh định người nam và người nữ cả hai đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa về bản thể và phẩm giá. Trong khi vô phương tìm ra một nguồn trợï giúp nào đương đối từ những sinh vật chung quanh, người nam chỉ tìm ra người bạn thích hợp nhất nơi người nữ, vốn được Thiên Chúa Giavê dựng nên bằng xương sườn rút từ người nam. Chi tiết tình tứ này này xác định căn tính chung nhất của cả hai phái là loài người, nhưng đồng thời vẫn mang sắc thái dị biệt về phái tính để có thể bổ túc hài hòa cho nhau. Vì thế, không phái nào có thể tự phụ mình là toàn vẹn để hòng phủ nhận bất cần phái kia. Quy luật hòa hợp và bổ túc giữa hai phái nhằm tìm đến sự trọn vẹn được khẳng định ở đây như ý định vĩnh hằng của Thiên Chúa.
Tóm lại, tính chất độc đáo nơi con người là họa ảnh của Thiên Chúa đã là căn bản cho đặc ân thông chia quyền cai quản thống trị muôn loài nhân danh Thiên Chúa. Con người làm chủ thế giới và tùng phục Thiên Chúa Sáng Tạo mà thôi, chứ không thể làm nô lệ tùng phục thế giới tự nhiên này. Thánh Irênêô kết luận: "Vinh quang Thiên Chúa là con người đang sống, nhưng viễn ảnh về Thiên Chúa là chính sự sống con người". Ðây chính là nền tảng cho mọi giá trị đặc biệt và cao quý của con người để làm nên nhân phẩm và nhân quyền bất khả xâm phạm nơi mỗi con người.
Sáng Tạo Và Sa Ngã
Nếu nói mọi công trình sáng tạo của Thiên Chúa là tốt đẹp như chính Ðấng Sáng Tạo từng nhìn nhận: "Thiên Chúa đã thấy mọi sự người làm ra: thật tốt lành quá đỗi!" (Kn 1:31), thì vẫn còn đó trăn trở này: "Vì đâu nên nỗi khổ đau? Bệnh tật, chết chóc sao gây lắm đoạn trường? Phải chăng Thiên Chúa sáng tạo ra cả sự chết?" Ðây là những vấn nạn thông thường được con người đặt ra khi đối diện với hữu hạn trần thế. Tác giả Kinh Thánh chẳng những không lẫn tránh vấn đề gai góc này, song còn mạnh dạn đặt chúng vào ngay bối cảnh sáng tạo qua trình thuật về sa ngã của đôi nam nữ đầu tiên (Kn 3:1-24).
Như đã thấy, con người được trao ban hiểu biết và tựï do để có thể hoàn thành sứ mạng cai quản và bá chủ muôn loài Chúa đã dựng nên. Là một chủ thể có nhân vị, con người có quyền chọn lựa lấy định mệnh cho mình. Không bao giờ con người là con rối trong trò xảo thuật thần linh; đó là phản lại ý định của Thiên Chúa. Nhưng liệu con người có ý thức đầy đủ về chức năng cao quý đã được phú trao không? Tác giả Kinh Thánh đã phải trả lời "Không" khi thuật chuyện đôi nam nữ đầu tiên bất tuân Lời Thiên Chúa mà đi tin lời con rắn, liều mình ăn quả cấm vì cao vọng "nên như những Thiên Chúa biết cả tốt cả xấu" (Kn 3:5). Tội đầu tiên ấy cốt ở không chịu làm loài thọ tạo, nhưng đòi làm Ðấng Sáng Tạo! Một chuyện ngược đời, lại thường xảy ra! Hậu quả thật tai hại vô lường: biết xấu hổ vì mình trần truồng không dám đối diện Thiên Chúa nữa, phải đau đớn sinh con, phải làm lụng vất vả mới có ăn, bị xua khỏi vườn địa đàng và cuối cùng là án chết không tránh khỏi.
Ðổ vỡ đầu tiên do chính con người tự gây ra, tự chuốc lấy, dù đã được cảnh cáo trước! Giá của tự do chọn lựa là thế đó! Sai một ly, đi một dặm, có ai ngờ! Thiên Chúa chỉ muốn điều tốt cho con người, nhưng con người lại dại khờ chuốc điều xấu cho mình, cho người, chỉ vì muốn tự mình rẽ ra ngoài đường lối Thiên Chúa. Tuy vậy, đổ vỡ này không phải là hoàn toàn tuyệt vọng, vô phương cứu chữa. Nó làm gián đoạn chứ không phá hỏng công trình sáng tạo tốt lành của Thiên Chúa. Người không bị bó tay, nhưng vẫn tiếp tục triển khai kế đồ sáng tạo và tái tạo. Thế đó, Thiên Chúa vẫn lớn hơn tội lỗi con người, vì Thiên Chúa vừa là Ðấng Sáng Tạo và còn là Ðấng Chữa Lành bằng Lời tác sinh đầy quyền năng. Lần này, Lời Sáng Tạo ấy triển nở thành Lời Hứa: "Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân" (Kn 3:15). Và phúc thay, Thiên Chúa đã thực hiện Lời Hứa ấy nơi Chúa Kitô Cứu Thế!
Thiên Chúa Tái Tạïo Mọi Sự Trong Chúa Kitô
Như trong Cựu Ước, dân Do-Thái nhìn công cuộc sáng tạo trong bối cảnh niềm tin vào giao ước, trong Tân Ước Giáo Hội cũng chiêm ngưỡng mầu nhiệm sáng tạo trong ánh sáng Chúa Kitô, Ðấng vừa hoàn thành mọi Lời Hứa cho Dân riêng và cũng là Ðấng khai mở "một trời mới một đất mới" (Kh 21:11). Thật vậy, người Kitô hữu hân hoan tin nhận rằng Chúa Kitô chính là trung tâm của lịch sử, là đích điểm của công trình sáng tạo, là mạc khải tối hậu về mục đích ẩn chứa trong chương trình Thiên Chúa tạo thành, khi tuyên xưng:
"Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Ngài, muôn vậ được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình . . . .
Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình.
Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Col 1:15-16, 19-20).
Tâm điểm của Tin Mừng Tân Ước là lời công bố: Trong Ðức Kitô vương quyền Thiên Chúa đã khởi sự và thời đại mới được các ngôn sứ từng tiên báo đã bắt đầu. Họa lại lời ngôn sứ Isaia, Tân Ước đồng thanh quả quyết một sáng tạo mới đã khai mở. Sự dữ và thần chết đã thảm bại trong biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Cuộc Vượt Qua của Ngài là kỳ công sáng tạo tươi mới đệ nhất vô song được Thiên Chúa thực hiện cho nhân loại: "Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Ðức Kitô" (2 Cor 4:6).
Lời Kết
Chiêm ngắm tôn nhan Thiên Chúa Cha, Ðấng Sáng Tạo, là khởi điểm cho niềm tri ân sâu xa của loài thọ tạo dâng về Ðấng Tạo Thành. Tất cả vũ trụ mênh mông xinh tươi là do Thiên Chúa dựng nên và ký thác, trao ban cho con người quản cai chăm sóc để mưu cầu hạnh phúc cho từng con người được cưu mang và chào đời trên hành tinh kỳ diệu này. Ơn gọi thiêng liêng cao quý của con người là biết nâng niu trân quý từng sự sống, mỗi cuộc đời, cùng tận dụng tất cả vốn hiểu biết và tự do để thăng hoa thế giới này. Họ không coi mình là chúa tể cầm quyền sinh sát, song khiêm tốn đủ để nhắc nhớ mình, dù xoay sở ngược xuôi thế nào, cũng vẫn là loài thọ tạo thôi. Chỉ một khi nhìn ra mình đơn thuần chỉ là người quản lý luôn cần trung tín và khôn ngoan, họ mới trông mong hoàn thành tốt trọng trách được trao phó trên dương gian, hầu hy vọng xứng đáng lãnh nhận phần thưởng ngày diện kiến Thiên Chúa Cha là Ðấng Sáng Tạo đầy yêu thương.
Nguồn trích: http://www.cuuthe.com/bao/s152tccha.html
(Còn tiếp)
Hình Kèm Theo
Kiểu File : bmp a15.bmp (115.5 KB, 3 lần tải)
Samuen_Maria hiện giờ offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 17/08/2009, 04:52 PM   #3
Samuen_Maria
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default

THIÊN CHÚA
THIÊN CHÚA LÀ CHA
+ Bạn biết gì về Thiên Chúa là Cha ?
Ở đây chúng ta đang nói đến một cách thức biểu tượng nhưng cũng không phải là không có thực và cũng không phải là chặt chẽ. Trong Ba Ngôi, Chúa Cha không làm Cha như các ông bố của chúng ta trên mặt đất (đôi khi tính cách người cha dưới đất vì lý do thô bạo nào đó làm cho những đưa con căm thù hoặc vì giáo dục khắc nghiệt nào đó làm cho con trai muốn giết bố, con gái không muốn lấy chồng). Trước hết, Người không có phái tính, đó là điều dĩ nhiên. Kế đó, như người ta nói, Người là "Cha tuyệt đối" vì Người là Cha mà không cần có một người cha, và không ai khác ngoài Người có cái đặc quyền này là được làm nguồn suối của chính mình. Người là Cha cách vĩnh cửu, chứ không phải làm Cha vào một ngày nào đó, trong một thời gian nào đó. Người là Cha thường xuyên, và Con của Người cũng không ngừng được sinh ra. Người là Cha cách độc nhất vô nhị, không làm chuyện gì khác, trong khi các ông bố của chúng ta có những công việc khác ngoài tư cách làm cha. Người Cha không cha, không anh em, không vợ. Người là Cha của một người con duy nhất, là hình ảnh hoàn hảo của Người. Người là Cha theo cách hoàn toàn tự do, không cần có một nhu cầu tự nhiên là sinh sản can thiệp vào, là nhu cầu cảm nhận một niềm vui thú hoặc duy trì giống nòi sau khi chết chóc hoặc làm hao mòn. Đó là Đấng Abba, là Cha của Đức Giêsu và cũng là Cha của chúng ta (Ga 20,17). Không phải các ông bố của chúng ta tự rọi phóng mình lên Cha trên trời, nhưng chính Cha trên trời đã ban cho các ông bố của chúng ta có thể bắt chước các tư cách làm bố của Người (Ep 3,15). Các ông bố quí mến của chúng ta, không phải các vị cho phép chúng ta xây dựng lên Thiên Chúa theo hình ảnh của các vị, nhưng bởi vì Thiên Chúa ban các vị cho chúng ta như hình ảnh của chính Người.
Chúng ta không phải là trẻ mồ côi, không phải con rơi con rớt, không phải là trẻ lạc loài, không phải cô nhi viện. Chúng ta hạnh phúc ấm lòng vì chúng ta có một người Cha, một Người Cha thương yêu âu yếm chúng ta. Thiên Chúa là một người Cha yêu thương như một người mẹ.
+ Đức Giêsu đã nói gì về Cha của Ngài ?
= Chúa Con đã mặc khải cho ta về Chúa Cha nhưng có lẽ chúng ta mới chỉ dừng lại ở nơi Chúa Con, trong sứ mệnh của Đức Kitô. Tôn giáo như vậy đâm ra hỏng mất. Tất cả mọi nhân đức tập tành, khấn hứa, đọc Lời Chúa.... những việc làm đó để gặp gỡ được Đức Kitô, và Đức Kitô sẽ dẫn ta đến Cha : Thầy là đường, là sự thật và là sự sống không ai đến với Cha mà không qua Thầy.
"Vâng lệnh Chúa Giêsu và theo lời Ngài dậy" chúng ta dám thưa : Lạy Cha. (đơn giản có thế thôi mà sao lai có ĐC, ĐTC... trọng kính, kính trình...)
Lời than thở của Đức Giêsu mãi mãi vẫn là hiện thực : "Lạy Cha chí nhân, thế gian không nhận biết Cha"
Có người nào trong chúng ta đã tưởng nghĩ đến Thiên Chúa như đến thân sinh của mình chăng ? hay ít ra có ai tự hỏi mình sẽ thế nào khi làm cha làm mẹ, làm bề trên làm chị giáo... mà tin tưởng rằng Thiên Chúa hơn gấp bội lần. Có cái nguy hiểm là tưởng mình còn tốt hơn cả Thiên Chúa nữa, Voltaire đã nói một câu thật ghê sợ : "Thiên Chúa đã tạo nên con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài nhưng con người đã hoàn trả lại cho Thiên Chúa". Tự bản tính con người, họ không ngừng tạo ra Thiên Chúa như mình nghĩ. Ngài ở xa thật xa, bất bình một cách hết sức vu vơ, lãnh đạm, lơ là hững hờ, ưa oán thù, cằn nhằn... mà chính vì ta không yêu Ngài nhiều nên ta cũng nghĩ rằng Ngài chẳng yêu ta bao nhiêu (suy bụng ta ra bụng Thiên Chúa). Mạc khải cho chúng ta biết Ngài là Cha, là Tình Yêu, Ngài yêu ta dù ta không yêu Ngài và Ngài đã yêu chúng ta trước.
Chúng vẫn đọc và đọc cả mấy triệu lần : "Lạy Cha chúng con" nhưng đã được mấy lần ta tin thật những lời mình đọc đó ? Thánh Toma nói : "Đức tin không nhắm đến công thức tín điều nhưng đến thực tại mà công thức ấy biểu thị". Vì con người thường hay tiến đến thói quen máy móc nên đọc quen mồm rồi thì cứ liến thoắng vậy thôi. Vì thế mà có phải ta chỉ tin cậy vào Ngài bằng môi mép chứ chưa bằng tấm lòng. Chúng ta sẽ nói sao về con cái mình nếu chúng cứ tự hào đã lo lắng lấy cho mình được, nếu chúng tưởng ta đã mặc cho chúng tự liệu lấy và chẳng còn đợi chờ nơi ta những điều chúng cần đến nữa ?
Nếu chúng ta đã được đào tạo, giáo dục nên con người chúng ta với một ý niệm về Thiên Chúa mơ hồ tẻ nhạt, đơn độc và có nguy hiểm lớn là càng ngày chúng ta càng nên giống một vị Thiên Chúa do óc mình tưởng tượng ra ?
Tất cả lịch sử nhân loại đã bị trật đường rầy và sụp đổ chỉ vì Adam đã nghĩ lầm về Thiên Chúa. Ông tưởng rằng Thiên Chúa chỉ là một hữu thể độc lập, tự chủ và đầy đủ cho mình, do đó, để nên giống Ngài, ông đã phản loạn và bất tuân. Nhưng Thiên Chúa đã mạc khải Ngài là yêu thương, âu yếm là thông ban chính mình, là chỉ vui chan chứa nơi người khác, là gắn bó, tùy thuộc, và Ngài mạc khải là vâng phục, vâng phục cho đến chết.
Trong khi tưởng rằng mình nên giống Chúa thì Adam lại hoàn toàn nên khác biệt với Ngài. Ông đưa Thiên Chúa vào cô độc trong khi Thiên Chúa chỉ là hiệp thông, là cộng đồng.
Mỗi người chúng ta có nguy cơ bước vào lấm lỡ của Adam. Chúng ta cho ở đâu là hạnh phúc ? Có phải là giầu có, vật chất đầy đủ tiện nghi, độc lập tự do hạnh phúc, thoát mọi gánh nặng, tránh những đau thương ? Có phải ở chỗ tự do làm điều mình muốn, nghĩ điều mình ưa ? Ở việc bảo đảm tương lai của mình, cậy dựa vào những tài sản mình đã có ? Chẳng cần đến ai ? Qủa thực đó là những điều ngược lại với kinh Lạy Cha.
Mỗi ngày chúng ta có tham vọng là mỗi ngày yêu thương hơn, gắn bó với tha nhân hơn, là tìm niềm vui trong việc làm vui kẻ khác, là dùng của cải để phân phát, dùng quyền hành để phục vụ, là đặt ưu ái nơi một người khác ? Nếu ai thực như thế thì giống như Cha mất rồi và như mới thực sự là con của Ngài.
Ta thường bị quyến rũ là lo cho ta, vun lợi lộc về cho ta, chiếm hữu, hưởng thụ, dành độc lập hơn là hiến ban mình đi. Đòi hỏi cho mình, bắt người khác yêu thương mình, lụy phục mình, củng cố mình, chứng tỏ cái mình...
Còn Thiên Chúa thì không là gì cả cho chính mình. Trong Thiên Chúa, cần phải có nhiều ngôi vị mới là Thiên Chúa, mới là Tình Yêu, mới là thông ban. Ngài đã mặc khải Ngài không phải là một vị Thiên Chúa cô độc, lẻ loi, cô đơn (anh hùng cô đơn) ích kỷ. Nhưng Thiên Chúa là thông ban, là đi ra khỏi mình, là thông giao và ban chính mình tuyệt đối.
+ Chúa là Cha. Là Cha nghĩa là gì ?
= Là Cha là hiến ban chính mình, là yêu kẻ khác trước khi kẻ ấy yêu mình, khi kẻ ấy chưa yêu mình, khi kẻ ấy chưa hiện hữu. Đó là yêu thương từng người một cách nhưng không chưa cần họ làm gì cho mình.
Hồ dễ ai chết cho một người công chính ? Có lẽ vì người lành, thì có chết cũng cam. Còn Thiên Chúa thì lại thi thố lòng yêu mến của Ngài đối với ta thế này : "Đức Kitô đã chết vì ta ngay lúc ta còn là tội nhân" (Rom 5,7-8). Tình yêu nhưng-không
Tình yêu chẳng cần một sự hứa hẹn nào cả. Khi cho chào đời một đứa con, lấy gì bảo đảm sau này nó sẽ tốt, quảng đại, biết ơn, yêu thương, sống chính trực ? Duy chỉ có một điều này : là tôi sẽ yêu mến nó hết lòng, sẽ nhẫn nại chịu khổ chịu cực vì nó, sẽ tha thứ cho nó hết lần này đến lần khác, để đến ngày nào đó, nó cũng yêu tôi như chính tôi yêu nó.
Chúa yêu chúng ta cách trung thành, với lòng nhẫn nại vô bờ, vì Ngài là Cha cách vô hạn. Ngài mời gọi mãnh liệt nhất, khẩn thiết nhất, làm sống dậy những cái ẩn kín và câm nín.
Thiên Chúa có thể bị chối từ, bị quên lãng nhưng chính Ngài không thể phủ nhận hay quên lãng chúng ta được. Con người có thể sống không Thiên Chúa nhưng Thiên Chúa không thể thôi làm Cha được.
Goriot nói : "Chính giây phút trở thành bố là giây phút tôi hiểu được thế nào là làm Thiên Chúa". Nhưng làm cha thể xác còn nghèo nàn lắm, với những giới hạn, và vẫn còn những niềm vui riêng...
Khơi lên, đưa lên trong lòng tin, trong tin tưởng, trong chân lý, trong tình yêu, trong niềm vui, hạnh phúc : đó mới là cha đích thật, có tính cách thiêng liêng, vượt xa hẳn về làm cha tự nhiên.
Biết bao đứa trẻ trong thân phận mồ côi ngay từ lúc chào đời. Chúng ta xét thực có cảm thấy được tình yêu của cha mẹ không và có yêu cha mẹ thực sự không ? yêu là thế nào ? lúc chết thì khóc hí hí đến mai quên.... lại cười hu hu.
"Tất cả những gì của Cha là của Con" (Ga 17,10)
Nơi Ngài không có một nhỏ nhoi nào quay về mình, và "Tất cả những gì của Con cũng là của Cha" mà cái gì là cái của Cha ?
Đó là Ngài yêu thương, Ngài hiến mình.
Và Ngôi Con cũng đã làm như vậy. Vì Ngài đã học biết được nơi Cha : "người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm" (Ga 5,19).
Chính Ngôi Cha là Đấng mạc khải mình nơi Ngôi Con. Cho nên phải xin Ngôi Con nói cho chúng ta biết về Ngôi Cha :
"Lậy Thầy xin cho chúng con biết về Cha".
Chúng ta có hai sai lầm tệ hại tưởng chừng như công cuộc cứu chuộc là một trận đôi co giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, coi Ngôi Con như Đấng can thiệp làm nguôi cơn giận của Ngôi Cha ("Thánh Tâm Chúa Giêsu là thành lũy độc nhất bảo vệ chúng ta khỏi cơn thịnh nộ của Chúa Cha...." )
Thế nhưng, mạc khải đã cho chúng ta biết Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con độc nhất của Ngài để cứu thế gian. Còn việc làm nào đắt đỏ hơn nữa đối với Ngài ? Còn hành động nào đòi hỏi nhiều Tình Yêu hơn ?
"Thiên Chúa trong Đức Kitô đã giao hòa thế gian với chính mình Ngài" (2Cor 5,19).
"Thầy không bảo anh em là chính Thầy sẽ phải xin Cha cho anh em, vì chính Chúa Cha yêu mến anh em" (Ga16,26-27).
Nhiều người tưởng rằng Ngôi Con đã có sáng kiến trước công cuộc cứu độ chúng ta. Nhưng Tin Mừng nói rõ :
"Tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi" (Ga 8,42)
"Các lời Thầy nói với anh em,Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình" (Ga 14,10)
"Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9)
Đã có khi nào bạn suy niệm trước tượng Chúa chịu đóng đinh chưa ?
Chúa Kitô đã đến để làm ta thành "người nhà" của Chúa Cha, đã giết mình đi để mạc khải cho ta về tình yêu của Chúa Cha. Thế mà chúng ta tưởng như một thứ can thiệp nhằm bảo vệ, một thứ phản đối, một cuộc ly dị ngay trong nội bộ Ba Ngôi mà bản chất chính là Tình Yêu.
Trước khi chết, Đức Kitô cũng đã nhắc lại chính điều đó : "Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm... con đã cho họ biết Danh Cha.... Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha" (Ga 17,4.6.7)
Vậy tín điều cốt yếu là ở đó : Chính Chúa đã gửi Con đến vì Ngài yêu chúng ta.
"Vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con ; họ đã nhận lấy những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con” (Ga 17,8)
Chúng ta đã thực sự tin tín điều đó chưa ? Cuộc sống của ta nếu ta tin vào điều đó thực chẳng lẽ không bừng sáng lên sao ?

Những câu hỏi gợi ý với bạn.
Lạy Cha
Xin ngưng lại những phút giây thật lâu để ngẫm nghĩ tiếng : Lạy Cha.
- Bạn xét xem tiếng Lạy Cha đó có phát xuất từ tận đáy lòng sâu thẳm, phát xuất từ trái tim yêu thương trìu mến của bạn chưa ?
- Là Cha nghĩa là gì ? Có phải là hiến ban chính mình, là yêu kẻ khác trước khi kẻ ấy yêu mình, là yêu một cách nhưng-không không ? (Roma 5,7-8)
- Người Cha đây là Cha nào ? Có hay gây rắc rối, bất bình, lơ là, ưa oán thù, cằn nhằn... với bạn không ?
- Tương quan của tôi với Cha có thân thương, trìu mến không ? Hay hững hờ, lạnh nhạt, mau quên, chán ngắt... ?
- Cha tôi có thương tôi, lo cho tôi hơn ông bố ruột thịt của tôi không ?
- Bạn suy nghĩ thế nào về câu Đức Giêsu tâm sự với Cha : "Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không nhận biết Cha" (Ga 17,25).
- Bố và Mẹ bạn có tốt lành và thương yêu bạn không ? Nếu có thì Cha trên trời có tốt và yêu thương bằng bố mẹ của bạn không ?
- Nếu bạn là Thiên Chúa thì bạn có tốt lành hơn Ngài và bạn có thi thố quyền hành như lòng bạn nghĩ, mong muốn không ?
- Bạn nghĩ thế nào về câu nói của Voltaire : "Thiên Chúa đã tạo nên con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài, nhưng con người đã hoàn trả nó lại cho Thiên Chúa".
- Có phải bạn yêu Chúa quá ít nên bạn nghĩ là Thiên Chúa cũng chẳng yêu thương bạn bao nhiêu, đúng không ?
- Bạn có suy bụng ta ra bụng Thiên Chúa không ?
- Có Chúa hay không không quan trọng bởi vì chúng ta vẫn cứ phải tự liệu lấy, vẫn cứ phải vất vả phấn đấu, có đúng không ?
- Hạnh phúc nhất của chúng ta là gì ? giầu có, tự do, độc lập, thoát mọi đau khổ. Thích tự do làm điều mình muốn, nghĩ điều mình ưa. Cậy dựa vào những tài năng, thành công hoặc tài sản... của mình chăng ?
- Định nghĩa Thiên Chúa là gì ? Tình Yêu là gì ? "Cái tôi" của bạn có lớn lắm không ? bự cỡ nào ?
- Khi chúng ta không hân hoan, không hạnh phúc, không bình an, (ngoài sự sống thể xác, sự sống đầy nước mắt...) chúng ta có phải là kẻ mồ côi không ?
- "Những gì là của Cha đều là của Con". Vậy những gì là của Cha, có phải là yêu thương vô cùng và hiến mình trọn vẹn không ?
- Trong sách Kinh Bổn dậy : Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ để Ngài được vinh quang. Nếu như Ngài đã làm tất cả chỉ vì mình thì hóa ra Ngài lại trở thành kẻ ích kỷ vô giới hạn rồi sao ? Vậy vinh quang Thiên Chúa là gì ?
- Bạn muốn Thiên Chúa phải làm gì cho bạn, như bạn mong muốn và Ngài đã thực hiện cho bạn chưa ?
- "Ai thấy Tôi là thấy Chúa Cha" (Ga 14,9). Đã có khi nào bạn suy niệm những lời đó trước tượng Chúa chịu đóng đinh chưa ?
- Bạn đã xác tín được là Chúa Kitô đến trần gian để làm cho bạn thành "người nhà" của Chúa Cha chưa ?
- Cuộc sống của bạn, của tôi, nếu chúng ta cùng xác tín là Cha chúng ta yêu thương âu yếm chúng ta là điều chân thật, chẳng lẽ con người chúng ta không bùng sáng lên sao ? Không sướng điên lên sao ?
* Càng tiến sâu vào đời sống mật thiết của Thiên Chúa càng phát hiện rằng tất cả những tư tưởng chúng ta có thể có về Thiên Chúa vừa bày tỏ Thiên Chúa ra cho chúng ta vừa che khuất Người đi. Có lẽ phải nói rằng những tư tưởng đó che giấu hơn là bày tỏ, vì tất cả những điều chúng ta có thể nói về Người đều ở một cấp độ thấp hèn vô cùng đối với Thiên Chúa. Tự hào rằng mình nói được về Thiên Chúa, gần như định nghĩa được về Thiên Chúa, sẽ đưa chúng ta rẽ vào một con đường lầm lạc, vì ở cuối con đường tư tưởng của chúng ta, cho dẫu đi xa tới đâu chăng nữa, Thiên Chúa vẫn không có ở đó. Người không hiện diện trong bất cứ từ ngữ nào, chỉ nguyên một việc tự hào nói được về Thiên Chúa là đủ tỏ ra chẳng biết gì về Người hết. Thiên Chúa là bản thể, là sự sống, là Tình Yêu, là Cha, là tự sinh tự phát, tự do, sáng kiến, yêu thương, tóm lại Người là Thiên Chúa, là Đấng duy nhất, vô song vô đối !
Chỉ những kẻ nào yêu thương mới có thể gặp được Thiên Chúa, mới biết chút ít về Đấng nào là Thiên Chúa của TÌNH YÊU. Không có tình yêu thương thì không sao biết được Thiên Chúa là ai, kẻ nào yêu mến thì biết rõ Người.
Nguồn trích: http://www.tamlinhvaodoi.net/linhdao/ldmm12.htm
(Còn tiếp)
Hình Kèm Theo
Kiểu File : bmp a15.bmp (115.5 KB, 9 lần tải)
Samuen_Maria hiện giờ offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18/08/2009, 04:57 PM   #4
Samuen_Maria
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA CHA!

DỤ NGÔN NGƯỜI CHA NHÂN HẬU
CHÚA CHA CHO TA TRỞ THÀNH NGƯỜI TỰ DO
Lm. Micae Trần Đình Quảng

Đoạn văn Lc 15,11-32 có thể được coi như Tin Mừng về sự tự do, giúp ta khám phá khuôn mặt của Chúa Cha, Đấng làm cho ta trở thành những người tự do. Nó cũng giúp ta tìm ra con đường tự do mà chúng ta phải đi qua để có kinh nghiệm về sự tự do này.

Người ta quen gọi đoạn Tin Mừng trên đây là “dụ ngôn về người con phung phá”. Nhưng đúng hơn, nên gọi là “dụ ngôn về người cha nhân hậu”. Quả thực, vai chính trong câu truyện không phải là người con (hoặc các người con, nếu kể thêm người con cả), mà là người cha.

I. NGƯỜI CHA

Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa qua người cha mà Luca trình bày. Đặc điểm chính của người cha này là khiêm nhường. Trước hành vi của đứa con thứ muốn được tự do liệu lý cuộc sống của mình và sử dụng phần gia sản được chia cho, ông không tỏ dấu phản đối. Ông để con mình ra đi, chấp nhận quyết định của nó, sau đó chỉ còn biết mong ngóng đêm ngày.

Qua hình ảnh người cha này, ta có thể thấy đặc tính thứ nhất của Thiên Chúa là khiêm nhường. Chỉ mình Thiên Chúa có thể khiêm nhường thật sự. Ngài xóa mình đi để làm cho ta hiện hữu. Các nhà thần bí Dothái diễn tả thái độ này của Thiên Chúa bằng kiểu nói “zim zum”, nghĩa là Thiên Chúa thu mình lại để cho tạo vật lộ ra. Kiểu nói tuy hơi quá, nhưng lại cho thấy một thực tại phi thường : Thiên Chúa nhường chỗ cho tạo vật. Nói khác đi, Thiên Chúa muốn tự giới hạn mình, để ta có thể sống như những con người tự do. Ngài có thể làm mọi sự, nhưng không thể cứu ta nếu ta không muốn.

Sự khiêm nhường của Thiên Chúa là như thế. Là Đấng Toàn Năng, Vô Biên, nhưng một cách nào đó đã hạn chế quyền năêng của mình trước mầu nhiệm của con người đã được Ngài tạo dựng. Không chỉ có con người trụt giầy ra trước mầu nhiệm Thiên Chúa (vì chỗ con người đứng là chỗ thánh), mà, qua câu truyện dụ ngôn, chính Thiên Chúa cũng “trụt giầy ra” trước tạo vật, vì tâm hồn con người là nơi thánh. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người tới cùng. Ngài hành động như thế vì khiêm nhường. Jean Tauler nói : “Sự khiêm nhường là nhân đức ẩn tàng nơi sự sâu thẳm của Thiên Chúa”.

Đặc tính thứ hai là hy vọng. Người cha hay Chúa Cha khiêm nhường đó, đã để cho con mình ra đi sống cuộc đời tự do, lại cũng chính người cha ngày ngày tựa cửa mong ngóng con trở về. Câu 20 cho biết : “Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta…”. “Anh ta còn ở đằng xa”, lời này muốn nói lên điều gì ? Muốn nói rằng người cha đã mòn mỏi đợi con. Nơi Thiên Chúa, chúng ta có thể gọi thái độ này là sự hy vọng của Thiên Chúa. Hy vọng là danh xưng khác của khiêm nhường. Nếu khiêm nhường là dành chỗ cho người khác hiện hữu, thì hy vọng là mong muốn cho người đó hiện hữu.

Thiên Chúa của Đức Giêsu là Thiên Chúa của hy vọng, theo hai nghĩa : Ngài là Thiên Chúa của lời hứa, và như vậy là cơ sở bảo đảm cho niềm hy vọng của con người ; Ngài vui sướng và ăn mừng vì một người con trở về. Như vậy dụ ngôn cho thấy những thái độ của Thiên Chúa, thể hiện qua những hành vi của người cha, có nguồn gốc sâu xa từ đâu : từ sự khiêm nhường và hy vọng. Những ai quan niệm về Thiên Chúa theo kiểu Aristote sẽ không hiểu được những thái độ này, và hẳn không thể chấp nhận vì nghĩ rằng Thiên Chúa làm như thế sẽ là một Thiên Chúa bất toàn.

Do đâu mà chúng ta có thể nói về sự khiêm nhường và hy vọng của Thiên Chúa ? Do đâu mà người cha đã chạnh thương và chạy lại gặp con ? – Đó là do tấm lòng của người cha, của Thiên Chúa. Trong tiếng Dothái, có thể dùng hai từ để chỉ tình yêu của Thiên Chúa : hesed và rachamim. Hesed nói lên một tình yêu có màu sắc nam tính, cho thấy một Thiên Chúa uy dũng và tín thành, là sự bảo đảm cho ta ; rachamim, được Cựu Ước sử dụng, có nghĩa đen là “lòng dạ người mẹ”, nói lên một tình yêu có màu sắc nữ tính, tình yêu của một người mẹ, không phải vì công trạng nào của con, nhưng chỉ vì nó là con mình (có thể thấy điều này trong Is 49,14-16 ; 63,16 ; Gr 31,20 ; Tv 131).

Đặc tính thứ ba của người cha trong dụ ngôn là lòng trắc ẩn (compassion). Tình yêu phát xuất từ lòng dạ người mẹ là một tình yêu đầy lòng trắc ẩn. Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn nên hằng chờ mong con cái trở về. Ngài yêu thương như một người mẹ, bằng một tình yêu nhân từ. Có thể suy nghĩ về tình yêu của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, để giúp ta hiểu hơn tình yêu của Thiên Chúa như một người mẹ, vì tình yêu của Mẹ Thiên Chúa là hình ảnh của tình yêu này. Qua cách diễn tả của Kinh Thánh và thần học về tình yêu của Mẹ Thiên Chúa, ta sẽ thấy tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu nhưng không và tỏa rộng, một tình yêu trung thành dù con người bất trung, một tình yêu chờ đợi tạo vật đáp ứng.

Cũng câu 20 còn cho biết đặc tính thứ tư là sự can đảm. Hãy nhìn cảnh người cha chạy lại gặp con. Theo não trạng Sêmít, hành vi này thật chướng, không xứng với địa vị của người làm cha. Đúng lý ra, người con chạy lại và quỳ sụp dưới chân cha mới phải. Đàng này, người cha lại cất công đi gặp con, còn chạy đến với anh ta nữa, quả là quá đáng. Ở đây, chúng ta bắt gặp một người cha không sợ mất mặt, thậm chí không ngại bị đàm tiếu hay những điều xấu nào đó có thể xảy ra cho mình.

Uy tín của người cha không ở chỗ giữ một khoảng cách đối với con cái, nhưng ở chỗ yêu chúng và biết cách diễn tả tình yêu này. Có thể gọi đặc tính thứ tư này là sự can đảm. Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu can đảm. Can đảm phá bỏ mọi thứ an ninh giả tạo để sống trong sự an ninh đích thực duy nhất do tình yêu mang lại. Can đảm đến với người khác khi biết vượt qua những khoảng cách thường được tạo ra chỉ vì không có khả năng yêu thương. Quả thực, lắm người hành xử độc đoán, muốn ra uy, nhất là khi có quyền, thường chỉ là vì không có khả năng yêu thương, do đó thấy cần phải bảo vệ uy quyền bằng cung cách hành xử đó.

Đặc tính thứ năm là niềm vui. Khi thấy con trở về, người cha đã sung sướng như một đứa trẻ. Ông ôm hôn anh ta, bảo đầy tớ mặc cho anh ta áo đẹp nhất, xỏ nhẫn vào tay anh ta, xỏ dép vào chân anh ta, giết bê béo làm thịt ăn mừng anh ta. Những việc đó là cách biểu lộ niềm vui của ông, một niềm vui đặc biệt. Đó chính là niềm vui trên trời dành cho một người tội lỗi hối cải. Đó chính là niềm vui của Thiên Chúa, một Thiên Chúa biết vui mừng sau khi đã phải đau khổ, cũng những người cha trong dụ ngôn đã đau khổ vì có tấm lòng của người mẹ (tuy sự đau khổ này không được nói rõ trong câu truyện). Trong mầu nhiệm thập giá, sự đau khổ của Thiên Chúa đạt tới tột đỉnh. Chúng ta tin vào một Thiên Chúa chịu đau khổ, vì Ngài là một Thiên Chúa yêu thương. Do đã đau khổ, người cha không thể không vui mừng khi thấy con trở về, và trở về chính ngôi nhà mà anh ta đã tự ý lìa bỏ.

Tất cả những điều trên giúp ta hiểu đặc tính cuối cùng là sự đau khổ của Thiên Chúa. Người cha trong dụ ngôn là hình ảnh của một Thiên Chúa không thờ ơ với những thăng trầm và đau khổ của con người, một Thiên Chúa chịu khổ và biết chịu khổ vì yêu thương tạo vật. Trong dụ ngôn, có một câu rất quan trọng, cho biết lý do vì sao Thiên Chúa đau khổ và vui mừng. Đó là câu 24, được lặp lại ở câu 32 : “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Quả là những lý do đáng suy gẫm lắm.

Lý do thứ nhất làm người cha đau khổ là vì con ông “đã chết”. Tức là anh ta đã tự hủy hoại đời mình. Lý do thứ hai là vì con ông “đã mất”, tức là đã lìa xa ông, đã rời bỏ cha của anh ta. Hãy lưu ý thứ tự trước sau của hai lý do mà người cha đưa ra. Thiên Chúa đau khổ trước hết vì con người đau khổ, sau đó Ngài đau khổ vì con người rời bỏ Ngài. Một tình yêu “thật” phải là như vậy. Tiên vàn không phải là nỗi đau riêng của mình, nhưng là nỗi đau của người khác, đau vì người đó như “đã chết”.

Chính tình yêu làm cho Thiên Chúa có thể chịu khổ theo cách ấy. Nếu Thiên Chúa không thể yêu, Ngài cũng không thể chịu khổ. Mầu nhiệm đau khổ của Thiên Chúa là mầu nhiệm về khả năng yêu thương vô hạn của Ngài. Nếu không như thế, chúng ta chỉ là những con rối trước mầu nhiệm Thiên Chúa. Jacques Maritain đã không ngần ngại khẳng định rằng đề tài về sự đau khổ của Thiên Chúa giúp ta hiểu vì sao Lời Chúa đôi khi bị đánh giá thấp so với lời của Aristote, hơn là ngược lại. Thiên Chúa của Aristote không thể chịu khổ. Nhưng Thiên Chúa của Kinh Thánh thì khác. Ngài là một Thiên Chúa đau khổ vì yêu, vì chia sẻ những tình huống nhân loại của ta, vì đã trở nên nghèo khó do lòng thương ta. Ngài là một Thiên Chúa không đóng kín cửa lòng để chỉ biết có mình, nhưng đồng hành với con người trong lịch sử của họ.

II. HAI NGƯỜI CON

Dụ ngôn còn nói đến hai người con, và người con thứ được nói trước. Tội của người con này, tự cơ bản, là ở chỗ nào ? – Anh ta đã xin với cha : “Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng”. Và người cha đã chia của cải cho các con. Lưu ý đến từ Hylạp “tôn bion” được sử dụng để chỉ gia sản : tôn bion có nghĩa là sự sống. Gia sản là cái giúp anh ta sống. Như vậy, người con phung phá cương quyết không muốn cha mình xen vào cuộc đời của mình. “Xin cho con những gì con được hưởng để con sống như con muốn”. Những ai có kinh nghiệm hoán cải đều biết rõ sống mà coi như không có Thiên Chúa sẽ ra sao. Tội của người con phung phá, hình ảnh của mọi tội lỗi, là thứ tội muốn tự liệu lý cuộc đời mình, không muốn phó thác nó cho Thiên Chúa một cách vô điều kiện.

Tội ấy đưa người con này tới đâu ? – Tới chỗ “thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa… sống phóng đãng, phung phí tài sản”. Trong bản văn Hylạp, những động từ, trạng từ, tính từ được sử dụng diễn tả sự đi xa của người con, sự phung phí tài sản cũng như những hệ quả đáng buồn.

Câu 16 cho thấy điều kiện sống tồi tệ của nó. Đọc câu này trong ngữ cảnh Sêmít, chúng ta mới thật sự cảm thấy ngao ngán. Trước hết, ăn uống với nhau có nghĩa là hiệp thông sự sống (một yếuu tố rất quan trọng trong bữa Tiệc ly). Dùng cùng những đồ ăn thức uống là đi vào hiệp thông sự sống với các người dự tiệc. Hơn nữa, nơi dân Israel, heo được coi là con vật nhơ bẩn nhất, biểu tượng cho sự dữ, sự tha hóa. Người con phung phá này còn ước ao ăn đậu muồng dành cho heo nữa, mà chẳng ai cho. Chi tiết này cho thấy anh ta không còn chút phẩm giá nào, đến nỗi muốn hiệp thông với heo, muốn sống điều kiện của heo. Cách diễn tả của dụ ngôn bày tỏ sự sâu sắc của bi kịch tội lỗi. Muốn tự liệu lý cuộc đời của mình là không còn sống nữa, là đánh mất ý nghĩa, vẻ đẹp, sức mạnh và bản chất của cuộc đời mình. Người con phung phá biết vậy. Rồi điều gì xảy ra ? Anh ta hình dung trong trí lộ trình đi từ giàu có đến nghèo khó. Anh đã chọn sự giàu có, muốn làm chủ đời sống, thì giờ đây anh đến trước mặt Thiên Chúa như một người nghèo khó, xưng thú sự hư không của mình. Lộ trình này cũng là lộ trình của bất cứ một cuộc hoán cải nào, diễn ra trong năm bước được trình bày vắn tắt dưới đây.

1. Bước đầu của hoán cải là cảm thấy mình đang sống xa cách, không thoải mái. Cuộc hoán cải nào cũng khởi đầu bằng cách nghĩ tới mình : cảm thấy mình xấu và đương nhiên muốn được tốt. Cầu lưu ý câu 17 : “Biết bao người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta…”. Người con phung phá cũng cảm nghiệm nỗi cơ cực của mình khi đối chiếu với những người làm công ở nhà cha. Như vậy, bước đầu trở về nhà, trở về với Thiên Chúa, là nhận ra sự xa cách, sự tha hóa và sự lầm than của mình.

2. Bước thứ hai là nhớ về nhà cha khi thấy sự tương phản giữa cái đói mình đang phải chịu và cơm dư gạo thừa mà những người làm công, những người không phải là con cái, đang được hưởng ở nhà.

3. Bước thứ ba là nhận ra sự lưu đày trong chính nội tâm mình. Đây là kết quả của hai yếu tố : nhận thấy mình khốn khổ và hồi tưởng sự sung túc đã mất. Nhận ra sự xa cách chưa đủ đâu ! Phải biết rằng cội rễ sâu xa của sự dữ là xa lìa Thiên Chúa. “Thưa cha, con đã đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa”. Lưu đày là xa lìa Đấng yêu thương ta vô vàn, là bỏ mất nhà cha vì phạm tội.

4. Bước thứ tư là hướng tới tương lai. Khi đã nhận ra sự lưu đày trong chính nội tâm mình thì quyết định từ bỏ quá khứ và hướng tới tương lai, muốn làm lại cuộc đời ở nhà cha. Vì sao ? - Vì ở đó có người cha tốt lành và yêu thương. Hoán cải mà không có bước thứ tư này sẽ không có kết quả. Quả thực, sau khi đã nhận ra tình trạng của mình, còn phải tin tưởng và hy vọng có thể làm lại cuộc đời. Bi kịch của Giuđa khác với bi kịch của Phêrô là ở điểm này : cả hai đều đã phản bội Chúa. Tội của Phêrô thậm chí còn nặng hơn, vì ông đã nhận được nhiều hơn. Nhưng Giuđa thì dừng lại ở bước thứ ba. Đau đớn vì xa lìa Chúa, Giuđa đã không dám đi bước tiếp, là tin tưởng và hy vọng vào Chúa. Ngược lại, Phêrô đã khóc lóc, nhưng còn tin vào ơn tha thứ và thương xót.

5. Bước thứ năm và cũng là bước cuối cùng : đứng lên đi về cùng Cha. Tất cả những gì nói trong bốn bước trên đây phải được thể hiện bằng một hành động cụ thể là đi về nhà Cha. Hành động này được gọi là sự giao hòa bí tích, bày tỏ bên ngoài điều đang xảy ra bên trong tâm hồn. Thiếu quyết định dứt khóat này, sự hoán cải vẫn chỉ là một ước muốn đạo đức, và sẽ không thể hiện trong một cuộc sống mới làm thay đổi vận mệnh một con người. Chính nhờ biết quyết định như vậy mà người con phung phá tìm lại được sự tự do của mình, và trở lại làm một người nghèo. Người con phung phá đã thực sự hoán cải là ở điểm đó. “Con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy”. Anh ta đã hoàn toàn để cho cha định liệu mọi sự. “Cha muốn làm gì về con thì làm. Con không muốn liệu lý cuộc đời của con nữa, mà để cha liệu lý cho con, vì cha là cha của con”. Con đường giải thoát là con đường đi từ giàu có tới nghèo khó, từ chỗ thoát khỏi Cha để sống cho mình tới chỗ thoát khỏi mình để sống cho Cha, hướng về Thiên Chúa, hoàn toàn và vô điều kiện.

Sau cùng, chúng ta nhìn tới người con cả, nhân vật thứ ba và cũng là nhân vật cuối cùng trong dụ ngôn. Anh là người luôn sống ở nhà, gần gũi bên cha. Nhưng chính sự gần gũi này giúp cho ta thấy ngay một điều : gần gũi bên ngoài không nhất thiết gần gũi bên trong. Người ta có thể sống cả đời trong một đan viện mà vẫn không yêu mến Thiên Chúa. Nhà Chúa không phải là chỗ bảo đảm. Quan trọng là sự gần gũi trong tâm hồn, yêu Chúa trong lòng.

Vậy điều gì đã xảy ra cho người con cả này ? Cũng có bi kịch. Ở ngoài đồng về gần đến nhà, anh nghe thấy tiếng đàn hát và bắt đầu nghi ngờ, rồi hỏi han, rồi tức giận, rồi không chịu vào nhà. Anh không chịu làm hòa với người cha đã tha thứ cho em của anh. Quả là cùng một tội không khác với tội của người em, tức là muốn tự mình liệu lý cuộc đời mình, coi mình như trọng tài phán xử điều tốt điều xấu. Đâu có khác việc làm của đứa em phung phá. Cho dù anh vẫn ở bên Cha, nhưng lại xa cách Cha đến độ thuộc vào số những người đòi xét đoán cuộc đời và tâm hồn người khác.

Trước thái độ ấy, người Cha đã làm gì ? – Một lần nữa ông lại khước từ địa vị của mình. Ông ra ngoài, năn nỉ, hầu xin anh bỏ qua cho tình yêu của ông. Những gì con cả nói với cha đều đúng hết (c. 29-30). Nhưng trước thái độ có tính chất xét xử này, ông mời gọi anh hoán cải : từ bỏ lôgic của công trạng để đi vào lôgic của tình yêu. “Em con đây đã chết, nay lại sống, đã mất, nay lại tìm thấy. Vậy phải ăn mừng hoan hỷ”. Ông cũng mời gọi anh trở về với sự nghèo khó, vượt qua sự giàu có của người muốn xét xử mọi người và mọi sự để đi tới sự nghèo khó của người để cho Thiên Chúa hướng dẫn và xét xử mình. Thực ra, người con cả giúp cho ta hiểu rằng : điều quan trọng là có một người xét xử trong cuộc đời của ta. Chúng ta đã đánh mất ý thức và vẻ đẹp của một Thiên Chúa xét xử. Đó là một Đấng có thể cho ta biết ta thật sự là ai và như thế nào.

Chúng ta cần được xét đoán, nhưng chỉ có sự xét đoán của Thiên Chúa mới nói đúng về ta, chứ không phải sự xét đoán của con người. Người con cả là người không cần Thiên Chúa làm quan án, vì chính anh làm quan án cho mình. Anh dành lấy cho mình chỗ của Thiên Chúa. Nhưng cha anh lại mời gọi anh đi vào lôgic của sự nhưng không (gratuité), đừng xét đoán theo lôgic của lý trí, nhưng đặt ưu tiên cho tình yêu.

Dụ ngôn chấm dứt ở đây. Và chúng ta bước sang một vấn đề khác, vì dụ ngôn không cho biết các sự việc kết thúc như thế nào. Chúng ta muốn biết người con thứ sẽ sống ra sao sau khi trở lại, và điều gì sẽ xảy ra cho người con cả. Có thể đặt giả thiết như sau : dụ ngôn không nói gì thêm và chấm dứt ở đây, vì thực ra, nó phải tiếp tục trong cuộc sống của mỗi người chúng ta. Nói cách khác, chúng ta phải tiếp tục sống điều Tin Mừng đã dạy, điều đã được kể lại trong dụ ngôn.

Một người đã từ chỗ giàu có đi tới chỗ nghèo khó thì sẽ sống thế nào ?
Ai đã chấp nhận để cho Thiên Chúa hoàn toàn liệu lý cuộc đời mình ?
Đó là điều chúng ta phải tìm kiếm trong kinh nguyện và chiêm niệm.

(Theo Bruno Forte, Dans la mémoire du Sauveur, Ed. Paulines, 1991, trang 55-68)
Nguồn trích: http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/THANHOC/ThienChuaCha/Chuong6.html
(Còn tiếp)

thay đổi nội dung bởi: Samuen_Maria, 19/08/2009 lúc 04:07 PM
Samuen_Maria hiện giờ offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 19/08/2009, 04:10 PM   #5
Samuen_Maria
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA CHA!

THIÊN CHÚA BA NGÔI
Chúa Nhật sau lễ Hiện Xuống: Lễ Chúa Ba Ngôi, năm C
Cn.8, 22-31; Rm.5, 1-5; Ga.16, 12-15
Thời Cựu Ước người Do Thái nhận biết “Thiên Chúa là Đấng duy nhất” (Đnl.6, 4). Nhờ Đức Yêsu, ki-tô hữu nhận biết Thiên Chúa là “Ba Ngôi Vị”.
Con người nói về Thiên Chúa
Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối, ngôn từ con người không thể diễn tả hoàn toàn được. Những hình ảnh diễn tả về Thiên Chúa Cha như một “ông già” râu dài phúc hậu, hoặc “chim bồ câu” chỉ Chúa Thánh Thần, là những hình ảnh biểu trưng. Cả những từ ngữ về Thiên Chúa, như “Cha”, như “Con”, như “Thánh Thần”, cũng là những từ ngữ được dùng với nghĩa loại suy; nghĩa là, chúng chỉ diễn tả được phần nào về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng vô hình, Ngài không có hình ảnh như con người; Thiên Chúa là Cha, nhưng không phải là cha hoàn toàn theo nghĩa con người vẫn thường dùng; Thiên Chúa là Con nhưng cũng không phải là con như con người.
Theo con người, cha luôn có trước con, nhưng không như vậy nơi Thiên Chúa Ba Ngôi; nơi Thiên Chúa, Ba Ngôi không ngôi vị nào có trước ngôi vị nào; tuy vậy Thiên Chúa vẫn là Cha, là Lời, là Thánh Thần; và cũng có thể nói Thiên Chúa là Cha, là Con, là Thánh Thần. Nơi con người, chỉ có một bản tính người nhưng có nhiều người khác nhau; nhưng không vậy nơi Thiên Chúa. Tuy một bản tính Thiên Chúa, nhưng Ba Ngôi Thiên Chúa không phải là ba Chúa, mà chỉ là một Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, không có từ ngữ “ba ngôi”. Từ ngữ “ba ngôi” là từ ngữ do các nhà thần học sáng tạo để diễn tả Thiên Chúa là Đấng “nguồn” của mọi sự, Đức Yêsu như Đấng luôn kết hiệp với Thiên Chúa, đến độ đồng nhất với Thiên Chúa, và được diễn tả là “Thiên Chúa nhập thể”, Thánh Thần như Đấng từ Cha và Con. Ba Ngôi Thiên Chúa không phải là ba thực tại (nếu là ba thực tại, nghĩa là, ba Chúa), nhưng chỉ là một thực tại, và là ba ngôi vị phân biệt rõ ràng: Cha không phải là Con hoặc Thánh Thần, Con không phải là Cha hoặc Thánh Thần, Thánh Thần không phải là Cha và Con. Tuy vậy Ba Ngôi là một với nhau, là một trong mọi sự, là một trong bản tính, là một trong ý muốn, là một trong quyền năng, là một trong hiện hữu.
Thiên Chúa Đấng là nguyên uỷ mọi loài, là nguồn của tất cả, là “Cha”, là Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa nơi Đức Yêsu, là Thiên Chúa nhập thể, là “Con”, là ngôi hai Thiên Chúa, là Lời Thiên Chúa. Thánh Thần là Thiên Chúa đang hiện diện nơi cung lòng con người, hướng dẫn con người trong mọi sự, dạy dỗ con người mọi điều, là Ngôi Ba Thiên Chúa.
Thiên Chúa Đấng Siêu Việt, Đấng vượt trên tất cả, Đấng “ngự trên trời”, đang hiện diện trong cung lòng mỗi người (Ga.14, 16.23). Ngay cả từ ngữ “ngự trên trời”, cũng là cách nói để chỉ Thiên Chúa là Đấng siêu việt mà con người không thể thấu đáo được. Đức Yêsu “lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa” nhưng Ngài đang “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
Ngôn từ là phương tiện để diễn tả về Thiên Chúa, phaỉ cố gắng để hiểu, và xin ơn Thánh Thần để hiểu Thiên Chúa hơn. Nói như vậy, không phải là phủ nhận giá trị của từ ngữ. Cũng phải dựa vào từ ngữ để hiểu điều Kinh Thánh, Giáo Hội, và các nhà thần học muốn diễn tả.
Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương chúng ta vô cùng
Giáo Hội đọc Cựu Ước trong niềm tin Thiên Chúa Ba Ngôi, và hiểu Đức Khôn Ngoan đã hiện diện với Thiên Chúa khi Ngài tạo dựng vũ trụ. Đức Khôn Ngoan là Ngôi Lời Thiên Chúa trước khi nhập thể. Đức Khôn Ngoan trước khi nhập thể, vẫn ở nơi Thiên Chúa và đã yêu mến con người.
Thánh Thần, Đấng ở nơi Thiên Chúa và được sai tới với con người, sẽ dạy dỗ con người, sẽ dẫn con người tới sự thật trọn vẹn. “Mọi sự của Cha đều là của Thầy” nhưng Thánh Thần lại “lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em”, như vậy nơi Ba Ngôi tất cả là chung.
“Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. Thiên Chúa, Ba Ngôi Thiên Chúa, yêu chúng ta vô cùng.
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
1. Bạn có thường ý thức Thiên Chúa luôn hiện diện với bạn không? Ý thức Thiên Chúa hiện diện với bạn, bạn được gì?
2. Bạn hiểu thế nào khi nói Thiên Chúa là Cha? Tương quan của bạn với Ngài như thế nào?
3. Bạn có cảm nghiệm Thánh Thần gần gũi với bạn không? Tại sao?

Nguồn trích: http://www.geocities.com/jptlsj/lctnc10.htm
(Còn tiếp)
Samuen_Maria hiện giờ offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20/08/2009, 01:52 PM   #6
Samuen_Maria
 
Tham gia ngày: Jun 2009
Đến từ: c11/13 BHưng BChánh TPHCM
Bài gởi: 203
Cảm ơn: 398
Được cảm ơn 779 lần trong 137 bài viết
Samuen_Maria is on a distinguished road
Default HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA CHA!

HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA

Ta chỉ có thể nhận biết Thiên Chúa trong sự thật và sự sống. Trong thực tế, ta có tin vào vị Thiên Chúa ấy không? Qua hành vi thái độ của mình, ta thường trình bày hình ảnh một Thiên Chúa đáng sợ, chẳng ăn nhập gì với người Cha yêu thương và công trình mà Chúa Giêsu đã giúp ta khám phá qua đời sống của Ngài. Thực ra, khi ta không thực sự biết được Chúa Giêsu, thì làm sao ta biết được Chúa Cha? "Philip, đã bao lâu rồi anh sống với Thầy, thế mà anh chẳng biết Thầy sao?". Tốt hơn là đừng bảo rằng ta là môn đệ Đức Kitô, nếu ta tiếp tục trình bày một hí họa về Đấng đã tự xác định rằng mình là Con Thiên Chúa, là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Mục tiêu đầu tiên của ta là biết sống như một con người. Thiên Chúa làm người để ta sống như một con người. Vấn đề không phải là sống tốt hơn hay xấu hơn, nhưng là sống đúng thực chất của mình. Dù ta tốt hay ta xấu, thì Thiên Chúa là Cha vẫn yêu thương ta như vậy: Người chỉ yêu cầu ta trung thực, nghĩa là đừng để Người thất vọng vì đã đặt kỳ vọng nơi chúng ta.
Chúa Giêsu biết đi sâu vào lòng người và nhìn thấy điều thiện bên trong họ. Đấy là điều đầu tiên mà ta cần học hỏi nơi Ngài: học cách nhìn thấy mỗi người đúng với bản chất của họ nơi thâm sâu, mà không dừng lại ở lớp vỏ bề ngoài: học yêu thương vô điều kiện. Tình yêu được trao ban khi cái tha và cái ngã mất đi tầm quan trọng mà chỉ còn có tình yêu thôi. Do đó, khi tình yêu hồn nhiên và tự phát là động cơ cho hành động, bạn không còn cảm thấy nhu cầu phải vênh vang va ‘tay trái bạn không biết điều tay phải làm’. Bạn trao ban tình yêu đích thực khi bạn không ý thức rằng mình đang yêu. Bạn không để ý đến tình yêu vì tình yêu thương là cho không. Đấy là loại tình yêu được nêu lên trong ngày phán xét cuối cùng, theo tường thuật của thánh Mathew. "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con cho Chúa ăn, cho Chúa uống và cho Chúa mặc đâu?"
Khi bạn vênh vang vì đã làm việc thiện, đã thực hiện một cái gì đó hơi ngoại lệ, tình yêu không còn là tình yêu mà trở thành cái vỏ bên ngoài. Tính háo danh đã thay chỗ tình yêu và làm nảy sinh lòng kiêu ngạo. Trong tình yêu, chỉ có những hành động đúng đắn mà không hề buộc ai quan tâm. Tình yêu tinh tuyền không thể làm gì khác hơn là yêu thương và lời đáp trả đối với tình yêu thì lúc nào cũng là yêu thương.
Muốn hạnh phúc, bạn không cần phải làm gì cả, không cần phải tìm kiếm gì cả, nhưng chỉ cần xóa đi những suy nghĩ sai lầm và những ảo tưởng ngăn cản không cho bạn nhin thấy sự thật. Nếu bạn thức giấc và giữ mình thức tỉnh, bạn có thể phát hiện những sự phong phú và những cơ may mà mỗi ngày bạn được trao tặng, nhận ra chúng và gọi đúng tên chúng. Bạn là hạnh phúc và tình yêu, nhưng bạn không màng đến vì bạn đang ngủ say. Bạn cố gắng đạt được hạnh phúc bằng các phương tiện mà xã hội đã dạy bạn. Nếu điều gì trở nên khó khăn hay khó chịu, bạn bỏ chạy. Do đó, bạn trốn trong tiếng ồn, trong ciệc tiêu thụ, trong ảo tưởng và trong khốn cùng của mình, để rồi sau đó những thứ đó làm cho bạn xấu hổ. Chúng ta đã bị lập trình để cảm thấy hạnh phúc hay bất hạnh tùy theo cái nút mà người ta bấm, nút khen hay nút chê. Đấy là điều làm cho bạn chới với và lắc lư từ thái cực này sang thái cực khác mà không bao giờ tìm được thế quân bình.
Những người ngủ say và bị lập trình là những kẻ mà xã hội kiểm soát dễ dàng nhất. Bạn phải thức giấc nếu không muốn trở nên một đơn vị trong lô người ấy!
http://www.freewebs.com/nguyensj/Gioi%20tre%205%20(chuyen)/Hinh%20anh%20TC.htm
(Còn tiếp)
Samuen_Maria hiện giờ offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không được gửi bài mới
Bạn không được gửi bài trả lời
Bạn không được gửi kèm file
Bạn không được sửa bài

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


giờ GMT +7. Bây giờ là 11:14 PM.
Powered by: vBulletin 3.8.2 Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.

Website xem tốt nhất ở độ phân giải 1024x768, trình duyệt Firefox 1.5 và Internet Explorer 7 hoặc các phiên bản mới hơn.